Loét dạ dày – tá tràng

(ND) 1. Chảy máu do loét dạ dày – tá tràng
Biểu hiện đầu tiên là buồn nôn và nôn ra máu: Bệnh nhân có cảm giác tanh lợm ở trong miệng, đầy bụng, khó chịu, buồn nôn sau đó nôn ra máu tươi, máu cục thẫm có lẫn thức ăn. Thông thường là nôn ra máu tươi ngay dữ dội là loét dạ dày, nôn ra máu đen thẫm hay máu đen loãng là loét hành tá tràng.
Đại tiện phân đen, thường xuất hiện ngay sau khi nôn ra máu hoặc xuất hiện ngay từ đầu tiên. Phân sền sệt, đen bóng như hắc ín hay như bã cà phê, mùi thối khẳm, lượng phân khá nhiều. Điều đáng nói, bệnh nhân ít khi đau bụng dữ dội, cảm giác đau nóng rát ở vùng trên rốn, có khi đau bụng xuất hiện trước khi chảy máu vài ngày. Kèm theo bệnh nhân có cảm giác hoa mắt chóng mặt hoặc ngất xỉu sau khi nôn ra máu, có khi bị sốc do mất máu (biểu hiện da xanh nhợt, vã mồ hôi, cảm giác ù tai, khát nước). Trường hợp chảy máu ít, từ từ sẽ không thấy biểu hiện sốc mất máu.
Nếu không được phát hiện và điều trị thì mức độ chảy máu ngày càng nặng thêm. (nôn máu đi ngoài phân đen ngày càng tăng). Xét nghiệm máu cho thấy mức độ thiếu máu nặng. Nếu được theo dõi chặt chẽ và có chỉ định đúng, xử lý kịp thời thì bệnh nhân mới có thể qua được.

2. Cách điều trị chảy máu do loét dạ dày – tá tràng
Có nhiều phương pháp để điều trị chảy máu do viêm loét dạ dày – tá tràng, tùy từng mức độ bệnh và cơ thể người bệnh mà các bác sĩ sẽ có chỉ định cụ thể.
Đối với trường hợp nhẹ, loét chưa có biến chứng, chảy máu lần đầu, tổn thương được xác định bằng nội soi là ổ loét non, không có dấu hiệu thoái hóa ác tính, tuổi còn trẻ hoặc quá già… thì các bác sĩ sẽ chỉ định điều trị nội khoa.
Phẫu thuật nội soi: được chỉ định trong những trường hợp ổ loét đang còn chảy máu, ổ loét đã cầm nhưng cục máu bám có khả năng bong, bệnh nhân già yếu, có các bệnh lý khác kèm theo, bệnh nhân đang có thai…
Điều trị ngoại khoa sẽ được các bác sĩ cân nhắc khi tình trạng bệnh nhân bị chảy máu nặng, chảy máu kéo dài, chảy máu tái phát mà phát hiện bằng nội soi thấy ổ loét vẫn tiếp tục chảy máu. Chảy máu trên bệnh nhân có biến chứng hẹp môn vị, thủng hoặc ổ loét xác định có khả năng thoái hóa ác tính, tuổi trên 50 có tiền sử loét dạ dày – tá tràng nhiều năm, điều trị nội khoa nhiều lần không khỏi.